Việt Nam sẽ lọt top 4 quốc gia có hệ thống Giáo dục đại học tốt nhất Đông Nam Á?
Theo
đó,
mục
tiêu
cụ
thể,
đến
năm
2025:
quy
mô
đào
tạo
đạt
230
sinh
viên/vạn
dân,
trong
đó
32%
theo
học
các
lĩnh
vực
STEM
(Các
lĩnh
vực
STEM
theo
phân
loại
của
UNESCO
tương
ứng
với
8
lĩnh
vực
theo
Danh
mục
đào
tạo
cấp
II
của
Việt
Nam
do
Thủ
tướng
ban
hành
bao
gồm:
Khoa
học
sự
sống,
Khoa
học
tự
nhiên,
Toán
và
thống
kê,
Máy
tính
và
công
nghệ
thông
tin,
Kỹ
thuật,
Công
nghệ
kỹ
thuật,
Sản
xuất
và
chế
biến,
Kiến
trúc
và
xây
dựng).
Số
lượng
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
và
sư
phạm
công
lập
giảm
ít
nhất
10%
trường
công
lập
so
với
năm
2021;
mạng
lưới
cơ
sở
đào
tạo
giáo
viên
cơ
bản
đáp
ứng
yêu
cầu
đào
tạo,
bồi
dưỡng
đội
ngũ
giáo
viên.
Đến
năm
2030:
quy
mô
đào
tạo
đạt
260
sinh
viên
đại
học/vạn
dân
và
20
học
viên
sau
đại
học/
vạn
dân,
trong
đó
35%
theo
học
các
lĩnh
vực
STEM;
số
lượng
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
và
sư
phạm
công
lập
giảm
ít
nhất
20%
so
với
năm
2021;
hoàn
thành
việc
sắp
xếp,
tổ
chức
lại
các
trường
cao
đẳng
sư
phạm,
mạng
lưới
cơ
sở
đào
tạo
giáo
viên
đáp
ứng
yêu
cầu
đào
tạo,
bồi
dưỡng
đội
ngũ
giáo
viên.
Theo
đó,
tổng
kinh
phí
chi
toàn
quốc
cho
giáo
dục
đại
học
tăng
bình
quân
hàng
năm
gấp
2
lần
mức
tăng
GDP,
đạt
tỉ
trọng
1,5%
GDP
vào
năm
2030.
Tỉ
lệ
giảng
viên
có
trình
độ
tiến
sĩ
tăng
bình
quân
1%
mỗi
năm,
đạt
40%
vào
năm
2030.
Tỉ
lệ
sinh
viên
có
việc
làm
phù
hợp
với
trình
độ
chuyên
môn
trong
thời
gian
12
tháng
sau
khi
tốt
nghiệp
đạt
trung
bình
trên
80%;
Tỉ
trọng
nguồn
thu
từ
các
hoạt
động
khoa
học
công
nghệ
của
các
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
đạt
bình
quân
10%
tổng
thu
vào
năm
2030
(15%
đối
với
các
trường
đại
học
nghiên
cứu)
Xếp
hạng
thế
giới
về
số
lượng
công
bố
quốc
tế
và
chỉ
số
H-index
tăng
10
bậc.
Xếp
hạng
theo
SCImago,
năm
2020
Việt
Nam
xếp
thứ
46
về
số
lượng
công
bố
và
59
về
chỉ
số
H-index.
Ngoài
ra,
hình
thành
một
số
cơ
sở
giáo
dục
đại
học,
một
số
lĩnh
vực
đạt
đẳng
cấp
khu
vực
và
thế
giới;
đưa
Việt
Nam
vào
top
4
quốc
gia
Đông
Nam
Á
tính
theo
số
lượng
và
thứ
hạng
các
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
có
mặt
trong
các
bảng
xếp
hạng
đại
học
quốc
tế
uy
tín.
Bộ
GD&ĐT
cũng
đưa
ra
các
giải
pháp
thực
hiện
như
đổi
mới
cơ
chế
quản
lý
và
chính
sách
phát
triển
đội
ngũ
giảng
viên,
thu
hút
mạnh
mẽ
người
giỏi
trong
và
ngoài
nước
về
giảng
dạy,
nghiên
cứu
trong
các
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
nhằm
thúc
đẩy
phát
triển
đội
ngũ
giảng
viên
cả
về
số
lượng
và
trình
độ.
Hoàn
thiện
quy
hoạch,
sắp
xếp
mạng
lưới
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
và
sư
phạm,
tối
ưu
hóa
hoạt
động
của
từng
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
và
của
cả
mạng
lưới
cơ
sở
sở
giáo
dục
đại
học
nhằm
cải
thiện
cơ
cấu
đào
tạo,
nâng
cao
hiệu
quả,
đáp
ứng
yêu
cầu
nguồn
nhân
lực
chất
lượng
cao
phát
triển
kinh
tế
xã
hội
của
các
địa
phương,
vùng
kinh
tế
và
của
đất
nước.
http://dlvr.it/SxWJrm
đó,
mục
tiêu
cụ
thể,
đến
năm
2025:
quy
mô
đào
tạo
đạt
230
sinh
viên/vạn
dân,
trong
đó
32%
theo
học
các
lĩnh
vực
STEM
(Các
lĩnh
vực
STEM
theo
phân
loại
của
UNESCO
tương
ứng
với
8
lĩnh
vực
theo
Danh
mục
đào
tạo
cấp
II
của
Việt
Nam
do
Thủ
tướng
ban
hành
bao
gồm:
Khoa
học
sự
sống,
Khoa
học
tự
nhiên,
Toán
và
thống
kê,
Máy
tính
và
công
nghệ
thông
tin,
Kỹ
thuật,
Công
nghệ
kỹ
thuật,
Sản
xuất
và
chế
biến,
Kiến
trúc
và
xây
dựng).
Số
lượng
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
và
sư
phạm
công
lập
giảm
ít
nhất
10%
trường
công
lập
so
với
năm
2021;
mạng
lưới
cơ
sở
đào
tạo
giáo
viên
cơ
bản
đáp
ứng
yêu
cầu
đào
tạo,
bồi
dưỡng
đội
ngũ
giáo
viên.
Đến
năm
2030:
quy
mô
đào
tạo
đạt
260
sinh
viên
đại
học/vạn
dân
và
20
học
viên
sau
đại
học/
vạn
dân,
trong
đó
35%
theo
học
các
lĩnh
vực
STEM;
số
lượng
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
và
sư
phạm
công
lập
giảm
ít
nhất
20%
so
với
năm
2021;
hoàn
thành
việc
sắp
xếp,
tổ
chức
lại
các
trường
cao
đẳng
sư
phạm,
mạng
lưới
cơ
sở
đào
tạo
giáo
viên
đáp
ứng
yêu
cầu
đào
tạo,
bồi
dưỡng
đội
ngũ
giáo
viên.
Theo
đó,
tổng
kinh
phí
chi
toàn
quốc
cho
giáo
dục
đại
học
tăng
bình
quân
hàng
năm
gấp
2
lần
mức
tăng
GDP,
đạt
tỉ
trọng
1,5%
GDP
vào
năm
2030.
Tỉ
lệ
giảng
viên
có
trình
độ
tiến
sĩ
tăng
bình
quân
1%
mỗi
năm,
đạt
40%
vào
năm
2030.
Tỉ
lệ
sinh
viên
có
việc
làm
phù
hợp
với
trình
độ
chuyên
môn
trong
thời
gian
12
tháng
sau
khi
tốt
nghiệp
đạt
trung
bình
trên
80%;
Tỉ
trọng
nguồn
thu
từ
các
hoạt
động
khoa
học
công
nghệ
của
các
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
đạt
bình
quân
10%
tổng
thu
vào
năm
2030
(15%
đối
với
các
trường
đại
học
nghiên
cứu)
Xếp
hạng
thế
giới
về
số
lượng
công
bố
quốc
tế
và
chỉ
số
H-index
tăng
10
bậc.
Xếp
hạng
theo
SCImago,
năm
2020
Việt
Nam
xếp
thứ
46
về
số
lượng
công
bố
và
59
về
chỉ
số
H-index.
Ngoài
ra,
hình
thành
một
số
cơ
sở
giáo
dục
đại
học,
một
số
lĩnh
vực
đạt
đẳng
cấp
khu
vực
và
thế
giới;
đưa
Việt
Nam
vào
top
4
quốc
gia
Đông
Nam
Á
tính
theo
số
lượng
và
thứ
hạng
các
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
có
mặt
trong
các
bảng
xếp
hạng
đại
học
quốc
tế
uy
tín.
Bộ
GD&ĐT
cũng
đưa
ra
các
giải
pháp
thực
hiện
như
đổi
mới
cơ
chế
quản
lý
và
chính
sách
phát
triển
đội
ngũ
giảng
viên,
thu
hút
mạnh
mẽ
người
giỏi
trong
và
ngoài
nước
về
giảng
dạy,
nghiên
cứu
trong
các
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
nhằm
thúc
đẩy
phát
triển
đội
ngũ
giảng
viên
cả
về
số
lượng
và
trình
độ.
Hoàn
thiện
quy
hoạch,
sắp
xếp
mạng
lưới
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
và
sư
phạm,
tối
ưu
hóa
hoạt
động
của
từng
cơ
sở
giáo
dục
đại
học
và
của
cả
mạng
lưới
cơ
sở
sở
giáo
dục
đại
học
nhằm
cải
thiện
cơ
cấu
đào
tạo,
nâng
cao
hiệu
quả,
đáp
ứng
yêu
cầu
nguồn
nhân
lực
chất
lượng
cao
phát
triển
kinh
tế
xã
hội
của
các
địa
phương,
vùng
kinh
tế
và
của
đất
nước.
http://dlvr.it/SxWJrm


No comments